Bình giảng bài thơ Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão

Bình giảng bài thơ Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão

Phân công

Phạm Ngũ Lão là con rể của Trần Hưng Đạo quê ở Hưng Yên, người có công trong cuộc kháng chiến chống quân Mông Nguyên dưới thời nhà Trần. Phạm Ngũ Lão tuy văn võ song toàn, yêu văn, làm thơ. Ông có nhiều bài thơ hay, trong đó có bài thơ “Lời thú tội”. Nguyên tác bài thơ bằng chữ Hán và bản dịch theo thể thất ngôn tứ tuyệt.

Xuyên suốt bài thơ, hình ảnh con người thời Trần được thể hiện rõ nét qua những câu thơ.

“Sóc con cực hình

Ba đội quân Tỳ, Hổ và Tề ở thôn Ngưu ”

Dịch

“Trộm ngọn giáo bảo vệ non sông bao năm.

Ba mảnh giống như con gấu và con hổ, vượt qua cả sao Ngưu Đầu ”.

Nhìn vào hai câu thơ trên, so với bản gốc và bản dịch, chúng ta đã thấy sự khác biệt. Câu đầu dịch chưa hoàn toàn chính xác: “sóc treo” không phải là “múa giáo”, mà là “cầm giáo nằm ngang”, có bản dịch bay giáo. Có thể người dịch “vũ điệu của ngọn giáo” phù hợp với chứng mất ngôn ngữ? Câu thơ thứ hai có hai cách hiểu: ngưu có thể hiểu là con trâu hoặc tên gọi của ngôi sao (theo truyền thuyết phương Đông), đọc chệch là xôi. Tuy nhiên, nó có ý nghĩa đối với người đọc theo cả hai cách vì nó cho thấy khí chất anh hùng của ba mảnh lao lên bầu trời, làm lu mờ những con bò đực. Khí thế mạnh mẽ của ba quân như hổ dữ có thể nuốt chửng cả một con trâu.

Xem thêm: Câu chuyện về một trò chơi quen thuộc mà tôi thích nhất

Vẻ đẹp của người nghệ sĩ thời Trần có thể kể đến là vẻ đẹp của bức chân dung tự họa của Phạm Ngũ Lão, được thể hiện ở hai câu thơ đầu. Tác giả đã xây dựng hình tượng người anh hùng trong tư thế hiên ngang, tầm vóc cao lớn, hiên ngang với vũ trụ. Hình ảnh người chiến binh oai phong, dũng mãnh, cầm giáo hiên ngang bảo vệ non sông đất nước. Chiều dài của ngọn giáo được đo bằng chiều cao của núi sông. Con người xuất hiện với tư thế kiêu hãnh, hào hùng, mang tầm vóc vũ trụ, oai hùng như xé nát không gian bao la. Không gian mở theo cả hai chiều: chiều rộng là chiều sông núi đất nước; Chiều cao được tính đến đầu bò trên bầu trời. Thời gian không tính bằng tháng hay năm, mà là vài năm, cũng đã vài năm.

Ở câu thơ thứ hai, tác giả dùng từ “tam quân”, nghĩa là ba đạo quân gồm tiền quân, trung quân và hậu quân. Từ “tam quân” ​​được hiểu rộng ra là nghĩa quân tử thời Trần, cũng là sức mạnh của toàn dân, của đất nước. Với bút pháp phóng đại và so sánh đã làm tăng sức khái quát sức mạnh vật chất và tinh thần của quân đội, mang khí phách Đông A. Ở hai câu thơ trên có sự kết hợp giữa hiện thực khách quan và hiện thực, hiện thực và chủ quan lãng mạn. sự nhận thức.

Xem thêm: Chủ đề mở trong ngôn ngữ học

Từ vẻ đẹp trang nghiêm, uy nghiêm của một vị tướng vĩ đại chỉ huy một đội quân đông đảo, oai phong và dũng mãnh. Câu thơ thể hiện rõ sự kết hợp giữa quân và tướng, đó là vẻ đẹp, sức mạnh và khí phách của chí khí Đông A.

Trong hai câu thơ cuối tác giả viết

“Cây liễu nam thanh danh đã hết.

Nghe thuyết dân gian Wuhou “

Dịch:

“Thưa ngài, nếu ngài chưa trả được nợ công

Tôi ngại khi nghe mọi người kể chuyện về Wuhou “

Hai câu cuối đã thể hiện ý chí làm người và tấm lòng của tác giả. Ý chí của tác giả được thể hiện qua câu “Nam tính ắt công thành danh toại”, nam tính là đàn ông, là con trai; Nợ công có nghĩa là nợ công. Câu ca dao có thể hiểu rằng, công danh và sự nghiệp là món nợ của một đời người phải trả cho kẻ làm người, tức là lập công, lập công, để lại sự nghiệp và công danh cho thiên hạ, cho nhân dân. Quốc gia. Trong điều kiện xã hội phong kiến, nam nhi trở thành lí tưởng tích cực có tác dụng to lớn đối với con người và xã hội.

Người xưa quan niệm tích cực:

“Đứa con trai nhỏ nên làm điều tốt

Xuôi về phía đông và yên tĩnh, đến bến bờ “

(Phổ biến)

Làm trai có tác dụng giúp con người từ bỏ lối sống sai trái, ích kỷ, cá nhân, sẵn sàng hy sinh thân mình, vì sự nghiệp cứu nước, tòng quân nên đất trời trường tồn với muôn đời. Nhưng tác giả xấu hổ khi nghe người ta kể câu chuyện về Wuhou vì anh không có khả năng trả món nợ công cho đất nước và thế giới. Đây là tấm lòng chân thành và trong sáng của người anh hùng. Đó là một nỗi xấu hổ khiêm tốn và cao cả, như nỗi hổ thẹn của Nguyễn Khuyến sau này ở Thủ Vịnh:

Xem thêm: Soạn bài Công dân dũng cảm

“Tôi đã định gác bút theo cảm hứng

Nghĩ lại, tôi thấy xấu hổ với anh Đạo ”.

Bài thơ là một bài văn hùng hồn, thể hiện tấm lòng không hề khô khan, cứng nhắc bởi tác giả đã sử dụng những câu thơ giàu ngôn ngữ, hình ảnh giàu sức biểu cảm và đậm chất sử thi.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *