Người soạn: Tên bài “Trích đoạn mười ba” (Hoàng Đức Lương) – ngữ văn lớp 10

Người soạn: Tên bài “Trích đoạn mười ba” (Hoàng Đức Lương) – ngữ văn lớp 10

Phân công

Câu 1: Theo Hoàng Đức Lương, nguyên nhân nào khiến văn tự của người xưa không được truyền lại đầy đủ cho thế hệ mai sau? Nêu nghệ thuật lập luận của tác giả.

Câu trả lời gợi ý:

Theo Hoàng Đức Lương, có 4 nguyên nhân khiến văn của người xưa không được truyền lại đầy đủ cho thế hệ sau, nên thơ và văn không được truyền lại cho thế hệ sau:

Lý do thứ nhất là: Chỉ có nhà thơ mới thấy được cái hay, cái đẹp trong thơ. Cũng có thể diễn đạt là vì thơ có “mấy ai hiểu được”.

+ Nguyên nhân thứ hai là: người có học bận làm quan hoặc thi trượt nên ít chú ý đến thơ văn. Một cách khác để nói điều này là vì “người nổi tiếng đang bận”.

Lý do thứ ba là sau đây: có những người thích thơ nhưng không đủ năng lực và không kiên trì. Chúng ta có thể nói rằng điều này được giải thích theo một cách khác là do “thiếu những người tận tâm”.

+ Nguyên nhân thứ tư như sau: Triều đình không chú ý đến vấn đề phổ cập văn học trong nhân dân. Chúng ta có thể hiểu rằng lý do này có thể được tóm gọn trong một vài từ bởi “không có lệnh của nhà vua”.

– Nghệ thuật lập luận của tác giả là ngoài 4 lí do thuộc chủ thể, tác giả còn nêu lí do thuộc về khách quan, tạo nên tính logic và đầy đủ. Đoạn tiếp theo từ “Vì bốn lý do nêu trên…” đến “… không bị xé xác” là lý do thứ năm: thời gian và lửa có sức tàn phá khủng khiếp đối với văn học. Đoạn văn kết thúc bằng một câu hỏi tu từ theo nghĩa phủ định: “… làm sao nó có thể được bảo quản mãi mãi mà không bị xé ra từng mảnh?” “. Câu hỏi thể hiện sự xót xa của tác giả trước hiện thực đau thương về sự tàn phá của chiến tranh trong nền văn học nước nhà. Đây là lý do đã thúc đẩy tác giả cho ra đời cuốn sách Trích diễm thiết. Lòng yêu nước được thể hiện ở thái độ trân trọng di sản văn hóa của tổ tiên và ở chỗ đau buồn trước nền văn học bị hủy hoại, ít được nhân dân đón nhận. Qua lời tựa, người đọc có thể cảm nhận được không khí thời cuộc và tâm trạng của tác giả. Đoạn văn đã trực tiếp bộc lộ tâm trạng, niềm tin của tác giả trước tình cảnh đau thương của đất nước. Sự khó khăn trong việc nghiên cứu thơ văn Lý – Trần khiến tác giả phải lên tiếng than thở, trách móc trí thức đương thời. Như vậy có thể thấy ông có ý thức trân trọng đối với văn học thơ của cha ông, đối với di sản văn học của dân tộc.

Xem thêm: Đề thi chọn học sinh giỏi môn Văn năm 2018

– Lời nói đầu có lí lẽ chặt chẽ, logic, trữ tình hoà quyện vào chất lí lẽ. Tác giả trình bày luận điểm của mình một cách rõ ràng, mạch lạc và ngắn gọn. Nghệ thuật lập luận của tác giả còn được thể hiện qua nhiều yếu tố khác như:

+ Phương pháp lập luận quy nạp.

+ Nghệ thuật liên tưởng, so sánh của đoạn thơ với những từ ngữ, hình ảnh như “thỏa thích”, “gấm vóc”, “vẻ đẹp ngoài vẻ đẹp”…

+ Sử dụng câu hỏi tu từ: “Làm sao tôi giữ được… nhưng không…?”

Câu 2: Hoàng Đức Lương đã làm gì để sưu tầm thơ ông tiên?

Câu trả lời gợi ý:

– Hoàng Đức Lương đã phải dành nhiều thời gian và công sức để sưu tầm được thơ ông tiên. Để hoàn thành “Trích diễm Thị”, Hoàng Đức Lương đã phải: “Đi tìm khắp nơi”, sưu tầm thơ của các bậc tiền bối. Sau đó, tác giả phải tìm cách “sưu tầm thêm thơ văn của những người bấy giờ làm quan trong triều”. Khi hoàn thành tác phẩm, tác giả đặt tên sách là Tem Điềm, vì là tập thơ nên có tên là Tem Điềm thi tập, gồm 6 tập. Đó là một công việc đòi hỏi nhiều thời gian và công sức, có thể nói một người nếu không có sự kiên nhẫn và tâm huyết sẽ không thể làm được.

Xem thêm: Viết đoạn văn để cảm nhận những phẩm chất dũng cảm, mưu trí, trung thành, hi sinh ở nhân vật chị Dậu.

– Tác phẩm của ông không chỉ có ý nghĩa đối với nền văn học đương đại mà còn mang ý nghĩa giáo dục và thực tiễn cho muôn ngàn đời sau. Có thể thấy, nếu không có nó, thế hệ mai sau sẽ không có tài liệu để nghiên cứu, bảo tồn văn học, đóng góp cho nền văn hóa của dân tộc. Nhờ công trình nghiên cứu này, giờ đây chúng ta có thể đọc, hiểu được những tác phẩm có tầm vóc lớn và mang tính triết lý sâu sắc như: “Chiếu dời đô” – Lý Công Uẩn, “Bạch Đằng phú” – Trương Hán Siêu,…

Câu 3: Động lực nào giúp Hoàng Đức Lương vượt qua khó khăn khi biên soạn tập thơ này? Bạn nghĩ gì về công việc sưu tầm và sáng tác thơ, văn mà bạn thực hiện?

Câu trả lời gợi ý:

– Điều gì đã thúc đẩy Hoàng Đức Lương vượt qua khó khăn để biên soạn tập thơ này đã được tác giả trình bày trong lời tựa. Động lực thôi thúc tác giả sưu tầm, chọn lọc thơ ca dân tộc để sáng tác “Tem Điềm Thi Tập” là:

+ Tình trạng sách viết về thơ Việt Nam hiện nay rất hiếm: “Không đâu mà học”. Người học thơ như Hoàng Đức Lương gặp rất nhiều khó khăn và “chỉ dựa vào các thi nhân đời Đường”.

+ Không chỉ tác giả mà cả dân tộc đều cần gấp rút có một cuốn sách biên soạn về thơ dân tộc như “Tem Điềm Thi Tập” để minh chứng cho văn hóa dân tộc, bởi vì: Một đất nước văn hiến, xây dựng mấy trăm năm thì không có cuốn nào. mà có thể được sử dụng như một cơ sở?

Xem thêm: Đề thi học sinh giỏi môn Ngữ văn lớp 11, môn 2

– Đó là những động lực thúc đẩy tác giả biên soạn cuốn sách “Trích diễm thiết”. Công việc rất lớn, công phu và ý nghĩa nhưng không phải ai có khát vọng cũng làm được. Tuy nhiên, tác giả không hề kiêu căng, tự mãn với tác phẩm của mình mà ngược lại còn tỏ thái độ rất khiêm tốn. Đây là thái độ phổ biến của người Phương Đông thời trung cổ. Sự khiêm tốn của Hoàng Đức Lương được thể hiện qua lời nhận xét của ông khi ông tự nhận mình là một “tài lẻ”, khi ông nói về việc đặt thơ của mình ở cuối sách, tác giả không tự hào về tài năng thơ của mình. Tôi nói: “Tôi xin lỗi thêm một số bài viết vụng về do tôi viết”, lý do sưu tầm thơ văn dân tộc của tác giả được tóm tắt như sau:

+ Niềm tự hào về văn hóa dân tộc.

+ Ý thức trách nhiệm đối với di sản văn học đã mất của cha ông.

+ Tinh thần độc lập, tự chủ, tự chủ trong văn học.

Câu 4: Anh (chị) hãy nêu ý kiến ​​đã đăng trước “Trích Điềm Thị Tập” về văn hóa dân tộc.

Câu trả lời gợi ý:

Ngoài lời tựa của Hoàng Đức Lương, còn có nhiều tác phẩm khác của các tác giả khác như “Đại Cáo Bình Ngô” của Nguyễn Trãi, “Nam quốc sơn hà” của Lý Thường Kiệt, “Đại Việt sử ký toàn thư” của Lê Văn Hưu . , “Đại Việt sử ký toàn thư” của Ngô Sĩ Liên, “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia” (Bài ký vinh danh tiến sĩ năm Nhâm Tuất, thời Đại Bảo thứ ba) của Thân Nhân Trung là một trong số đó. . chứng tỏ các nhà văn, nhà thơ thời xưa rất tự hào về nền văn hóa dân tộc.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *