So sánh bài thơ Tây Tiến và Đất Nước của Quang Dũng và Nguyễn Khoa Điềm

So sánh bài thơ Tây Tiến và Đất Nước của Quang Dũng và Nguyễn Khoa Điềm

Phân công

Đất nước trong mỗi người, chỉ có một nhưng lại mang hình hài khác nhau, mang trong mình những câu chuyện khác nhau. Tại Quang Dũng, đây là hình ảnh:

  • “Nằm rải rác trên biên giới của những nấm mồ xa xôi
  • Ra chiến trường không tiếc đời xanh.
  • Những chiếc váy đưa anh ta trở lại mặt đất
  • Sông Mã gầm lên khúc độc tấu.
  • (“Tây Tiến” – Quang Dũng)
  • “Người ơi đất nước là máu xương của ta
  • Phải biết cách dán và chia sẻ
  • Phải biết tô thắm hình hài đất nước.
  • Làm cho đất nước mãi mãi ”
  • (“Đất nước” – Nguyễn Khoa Điềm)

Quang Dũng và Nguyễn Khoa Điềm được xem là những thế hệ tiêu biểu trong hai cuộc kháng chiến trường kỳ của đất nước: Kháng chiến chống Pháp và kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Nếu Quang Dũng là bông hoa nở giữa rừng thơ chân chất, mộc mạc của vẻ đẹp hào hoa, anh hùng thì Nguyễn Khoa Điềm nổi bật giữa những vần thơ thần kinh, bụi bặm với phong cách chính luận trữ tình riêng. . Quang Dũng viết “Tây Tiến” từ trong nỗi nhớ, bằng nỗi nhớ da diết và trong nỗi nhớ da diết. Tây Tiến là tên một đơn vị quân đội được thành lập năm 1947, có nhiệm vụ cùng bộ đội Lào bảo vệ vùng biên giới Việt – Lào và vùng Tây Bắc Việt Nam. Cuối năm 1948, khi phải xả thân đi làm nhiệm vụ khác, nỗi nhớ Tây Tiến và núi rừng, những cư dân Tây Bắc đã giúp ông viết nên bài thơ. Và Nguyễn Khoa Điềm đã viết “Đất nước” bằng lương tâm, tinh thần trách nhiệm và hướng tới sự giác ngộ. “Đất nước” là phần đầu chương V của sử thi Mặt đường khát vọng, được viết năm 1971 tại chiến khu Trị Thiên giữa cuộc kháng chiến chống Mỹ ác liệt đang từng bước lung lay. Lời thơ như lời khẳng định, đánh thức và thức tỉnh con người.

Xem thêm: Sống Với Người Mãi Mãi – Cây Tre Việt Nam Ngữ Văn 6

Đầu tiên, chúng ta cảm nhận được hình ảnh hào hùng nhưng cũng không kém phần bi tráng của đất nước trong sự hy sinh anh dũng của nhân dân:

  • “Nằm rải rác trên biên giới của những nấm mồ xa xôi
  • Ra chiến trường không tiếc đời xanh.
  • Những chiếc váy đưa anh ta trở lại mặt đất
  • Sông Mã gầm lên khúc độc tấu.

Câu thơ là một trong những tượng đài bi tráng nhất của người lính Việt Nam. Ở đất nước xa xôi, những người này chỉ là những tấm vải mỏng manh. Bi kịch, mất mát của chiến tranh là không thể phủ nhận. Chính vì vậy, Nguyễn Duy đã từng đau xót tổng kết: “Hèn chi mà không hắt bóng buồn” (“Đứng trước tượng đài kyiv) Nhưng lòng thương không Câu thơ sử dụng một hệ thống từ Hán Việt:“ biên giới. “,” xa “,” chiến trường “,” áo dài “,” sói đơn độc “để không khí thanh thoát hơn, lời ca êm đềm, giọng thơ. Anh hùng, bi tráng. Một cách nói chủ động khác:” không tiếc cho sống xanh ”khẳng định bản lĩnh hiên ngang của kẻ coi cái chết nhẹ tựa cờ đỏ Hình ảnh“ y phục ”gợi lại bóng dáng của Kinh Kha bên bờ sông Dịch:“ Nhất thời nam tử hán bất phục. trở về ”và cách nói của người lính đẹp hơn Cái chết đối với họ chỉ là sự trở về trong khi họ đã sống và chiến đấu ác liệt với một tinh thần điềm đạm và hiền lành. t thường là những biểu hiện tiêu cực của “giấc mơ rơi”, “mồ buồn” hoặc “hòa bình tư sản”. Giọng điệu của nhà thơ, của những người lính Tây Tiến, quả là vô cùng đáng trân trọng. Đó là biểu hiện lòng quyết tâm của những con người yêu giống nòi, sẵn sàng hy sinh xương máu vì những nghĩa cử cao cả. Họ không phải là nạn nhân, con cờ đen vô nghĩa trên bàn cờ, mà là những “chủ thể nhận thức về lịch sử”, biết sống đẹp từng khoảnh khắc, biết mơ, biết hy vọng và khi cần thì sẵn sàng cho đi. Những câu thơ của Quang Dũng thực sự sánh ngang với những người lính đã hy sinh vì nghĩa lớn. Sự ra đi của họ được cất lên như một bản nhạc “đơn” của dòng sông Mã đầy hùng tráng và trang trọng. Tầm vóc của con người so với vũ trụ.

Xem thêm: Tổng hợp lời giải chi tiết cây tre Việt Nam lớp 9

Nhận thức được điều này, Nguyễn Khoa Điềm khẳng định thêm:

  • “Em yêu
  • Đất nước là máu và xương của tôi
  • Phải biết cách dán và chia sẻ
  • Phải biết tô thắm hình hài đất nước.
  • Làm cho đất nước mãi mãi ”

Đoạn thơ mở đầu bằng đại từ “Em” – người vô danh là người chị, người “chị hái măng một mình” trong bài thơ của Tố Hữu? Hay tất cả những thế hệ đi sau, đi sau? Cũng là một thông điệp cho chính tôi. “Em ơi” cho câu thơ êm ái, nhẹ nhàng như những lời dặn dò đầy tin tưởng, ân cần của “em” đối với “anh”. Chính điều này đã giúp thơ Nguyễn Khoa Điềm viết về chính trị không khô khan, chính luận mà còn đậm chất trữ tình. Các con phải nhớ: “Tổ quốc là máu xương của ta”. Một định nghĩa rất cụ thể và rất mới từ Nguyễn Khoa Điềm: khái niệm phi vật chất được nhìn thấy như “máu của mình” – một bộ phận của cơ thể không thể thay thế, không thể cắt đứt, tách rời. ; Đồng thời cũng là máu xương, mồ hôi, tâm hồn của những người lính như những người lính Tây Tiến phải chịu cảnh “biên cương, mồ nằm rải rác”. Vì vậy, cần phải “biết gắn bó, chia sẻ” – biết yêu thương chia sẻ, đoàn kết; “hiện thân cho hình hài đất nước” – biết từ bỏ cái tôi, ích kỷ để là một phần của đất nước, sẵn sàng hy sinh, sẵn sàng cống hiến. Thông điệp “Phải biết”, không còn đơn thuần là một lời nhắc nhở mà đã trở thành yêu cầu, ý thức về tinh thần trách nhiệm của mỗi người dân, thế hệ trẻ hướng về hai chữ “Tổ quốc” đã đưa họ trở thành “Tổ quốc muôn đời”. luôn luôn mạnh mẽ.

Xem thêm: Bài văn phân tích hình tượng Quang Trung trong Hoàng Lê nhất thống chí

Như vậy, đối với Quang Dũng và Nguyễn Khoa Điềm, đất nước là tất cả những gì hết sức thiêng liêng, cao quý nhưng cũng thật gần gũi, bình dị. Đối với Quang Dũng, đất nước là chủ nghĩa anh hùng và là bi kịch của những con người dũng cảm “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Hiểu được điều này, Nguyễn Khoa Điềm đã khẳng định lại và khẳng định trách nhiệm của thế hệ trẻ đối với đất nước. Cuối cùng, đây đều là những ý kiến ​​đóng góp, cống hiến hết mình cho Tổ quốc. Nhưng nếu “Tây Tiến” đã trở thành địa chỉ của nỗi nhớ với ca từ Hán Việt trang trọng, giọng thơ dứt khoát, hào hùng thì “Đất nước” của Nguyễn Khoa Điềm là một diện mạo mới, sâu sắc. Trình bày những khái niệm tưởng như đã quá quen thuộc được viết bằng thể thơ tự do, ngôn từ giản dị và giọng điệu tình cảm thì thầm. Dòng văn học Việt Nam trải qua hàng nghìn đời nay vẫn tiếp tục chảy do tiếp thu và đổi mới, do những điểm gặp gỡ riêng biệt và độc đáo ấy.

Bom đạn đã đi qua, chiến tuyến lại được vạch ra và san bằng nhưng những câu thơ ấy vẫn trường tồn. Đó là câu thơ của một thời đại, chân lý của một thời đại.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *